Có vần viết thiếu chữ
Pinyin viết tắt một vài vần: ui thật ra là uei, iu là iou, un là uen. Nếu đọc đúng như mặt chữ thì sẽ bị mất âm ở giữa. Vì vậy 对 duì phải đọc gần như “tuây”, 六 liù gần như “liêu”.
Học xong bài này, bạn sẽ đọc đúng những vần (vận mẫu) hay bị đọc sai và biết đặt dấu thanh cho đúng chỗ.
Khoảng 10 phút · 10 câu luyện nghe
Pinyin viết tắt một vài vần: ui thật ra là uei, iu là iou, un là uen. Nếu đọc đúng như mặt chữ thì sẽ bị mất âm ở giữa. Vì vậy 对 duì phải đọc gần như “tuây”, 六 liù gần như “liêu”.
ü đọc gần như “uy” nói liền một hơi, môi tròn lại. Khi đứng sau j, q, x, y, ü bỏ hai dấu chấm đi và viết thành u. Vì vậy u trong 去 qù, 学 xué, 鱼 yú thật ra đều là ü.
Nhiều chữ có âm Hán Việt nghe gần với pinyin: 天 tiān là “thiên”, 年 nián là “niên”, 先 xiān là “tiên”, 电 diàn là “điện”. Mẹo này giúp bạn nhớ nhanh, nhưng không phải chữ nào cũng khớp đâu nhé.
Có a thì đặt trên a. Không có a thì đặt trên o hoặc e. Riêng iu và ui thì đặt trên chữ đứng sau, ví dụ liù, guì.
Nghe từng chữ rồi đọc to theo ngay. Đọc thầm trong đầu thì không luyện được phát âm đâu.
Vần có g ở cuối thì kết thúc ở cuống lưỡi, miệng mở rộng hơn.
Khi âm tiết bắt đầu bằng i, u hoặc ü, pinyin thêm hoặc đổi thành y, w.
Đọc e giống chữ “e” tiếng Việt.
车 chē đọc gần như “chơ”, không phải “che”.
Đọc ian thành “an”.
天 tiān đọc gần như “thiên”, không phải “than”.
Đọc qu, xu, ju giống “qu”, “xu” tiếng Việt.
u đứng sau j, q, x thật ra là ü, nên phải tròn môi như khi đọc “uy”.
Đọc en với eng, in với ing giống nhau.
eng và ing kết thúc ở cuống lưỡi, giống “âng” và “inh” trong tiếng Việt.
10 câu nghe. Nhớ bật âm thanh nhé.
Nghe mẫu từng câu và đọc theo ba lần, rồi thử tự đọc lại mà không nghe mẫu.